Vsp Resort Logo Ky Niem 40 Nam Thanh Lap Vietsovpetro

Kỷ niệm 40 năm thành lập Liên doanh Việt – Nga Vietsovpetro (19/6/1981 – 19/62021)

Năm 2021, ngày 19/6 đánh dấu Kỷ niệm 40 năm thành lập Liên doanh Việt – Nga Vietsovpetro: Mô hình hợp tác quốc tế kiểu mẫu thành công ở Việt Nam. Vietsovpetro Resort vinh dự tự hào là 1 trong những đơn vị thành viên của VSP.

Xem thêm Vietsovpetro (VSP) là gì? 

Bước ngoặt trong phát triển ngành Dầu khí

Trong những năm 1970-1980, tình hình hết sức khó khăn, nền kinh tế Việt Nam mất cân đối nghiêm trọng. Bên cạnh đó, chiến tranh biên giới Tây Nam và xung đột biên giới phía Bắc gây tác động xấu đến tình hình đất nước.

Trong điều kiện ngành Dầu khí nước ta thiếu công nghệ, kỹ thuật, vốn, nhân lực khoa học kỹ thuật trình độ cao và thiếu khả năng quản lý, thì vấn đề hợp tác với các nước khác để giải quyết các vấn đề trên là điều tất yếu.

Nghị quyết số 244-NQ/TW của Bộ Chính trị ban hành ngày 9/8/1975 thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng trong việc phát triển ngành Dầu khí Việt Nam, với chủ trương hợp tác đa phương.

Vsp Resort Bộ Trưởng Đinh Đức Thiện Cùng Các đồng Chí Cán Bộ Ngành Dầu Khí Việt Nam đi Tìm địa điểm Xây Dựng Căn Cứ Trên Bờ Phục Vụ Khai Thác Dầu Khí (năm 1980)

Báo cáo số 782/DK-BC ngày 11/4/1977 của Tổng cục Dầu khí, sau ngày giải phóng miền Nam, có trên 30 công ty dầu khí lớn và đa quốc gia có tên tuổi quốc tế, xin tham gia tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí ở Việt Nam.

Nhà nước đã chọn và cho phép Tổng cục Dầu khí ký hợp đồng với 3 công ty: Deminex MBH (Cộng hòa Liên bang Đức), AGIP S.P.A (Tập đoàn ENI, Italia) và Bow Valley Exploration (Canada). Sau hơn 1 năm tính từ ngày ký hợp đồng, cả 3 công ty đã khoan được 8 giếng khoan sâu, 6/8 giếng đều có phát hiện dầu khí.

Nhưng do sức ép cấm vận kinh tế của Mỹ với Việt Nam, thêm cuộc chiến tranh biên giới đã làm gián đoạn việc thăm dò khai thác, đến 1979 các công ty này đồng loạt chấm dứt các hợp đồng dầu khí đã ký trước đó. Nhà nước tiếp tục phải có đối sách để tiếp tục tiến hành thăm dò khai thác ở thềm lục địa phía Nam.

Cũng vào năm nay, 1 đoàn cán bộ cấp cao do Bộ trưởng Đinh Đức Thiện dẫn đầu đã đi thăm và làm việc tại Liên Xô. Đoàn đã bàn với phía Liên Xô lịch trình cụ thể số lượng chuyên gia sang giúp Việt Nam nghiên cứu tài liệu và xem xét tình hình cụ thể về dầu khí trong phạm vi cả nước.

Trên tinh thần đó, Bộ Chính trị trong phiên họp ngày 1/12/1979 đã quyết định hợp tác với Liên Xô về dầu khí và ra Thông báo số 17-TB/TW: “Hợp tác với Liên Xô có sự tham gia của một số nước trong Hội đồng Tương trợ kinh tế là rất cần thiết để xây dựng ngành công nghiệp dầu khí hoàn chỉnh và vững chắc, giúp ta tiến tới tự lực tự quản lý đến các mặt kỹ thuật”.

Ngày 17/12/1979, Tổng Bí thư Lê Duẩn đã gửi thư cho Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô L.I.Brezhnev, chính thức đề nghị Liên Xô giúp xây dựng ngành công nghiệp Dầu khí Việt Nam và hợp tác khai thác dầu khí tại thềm lục địa phía Nam Việt Nam. Đây là một quyết định có tính lịch sử, mở ra một thời kỳ mới cho ngành Dầu khí nước ta.

Ngày 3/7/1980, Hiệp định giữa Việt Nam và Liên Xô về việc hợp tác tiến hành thăm dò địa chất và khai thác dầu khí ở thềm lục địa phía Nam Việt Nam đã được ký tại Moskva.

Lễ ký kết Hiệp định hợp tác về thăm dò và khai thác dầu khí trên thềm lục địa phía Nam Việt Nam tại Điện Kremli tháng 7/1980

Lễ ký kết Hiệp định hợp tác về thăm dò và khai thác dầu khí trên thềm lục địa phía Nam Việt Nam tại Điện Kremli tháng 7/1980

Với hình thức hợp tác thành lập Xí nghiệp Liên doanh Việt Nam – Liên Xô tổ chức và hoạt động phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế, đem lại hiệu quả cao nhất, xây dựng được cơ sở vật chất – kỹ thuật cho ngành Dầu khí hiện đại của Việt Nam, đồng thời nhanh chóng đào tạo được đội ngũ cán bộ, công nhân kỹ thuật người Việt có trình độ chuyên môn cao.

Từ đó, 2 phía đã thống nhất thành lập dự án liên doanh góp vốn 50/50 bằng hiện vật trên cơ sở Hiệp định hợp tác hữu nghị Việt Nam – Liên Xô ký năm 1980 và chọn mô hình Xí nghiệp liên hợp thăm dò khai thác dầu khí biển Azerbaijan làm cơ sở xây dựng Liên doanh Dầu khí Việt – Xô.

Ngày 19/6/1981, Hiệp định Liên Chính phủ Việt Nam và Liên Xô về việc thành lập Xí nghiệp Liên doanh Dầu khí Việt – Xô (ngày nay là Liên doanh Việt – Nga Vietsovpetro) được ký kết, đánh dấu bước ngoặt lớn cho sự phát triển ngành công nghiệp dầu khí của Việt Nam.

Phó chủ tịch Ủy ban Kinh tế đối ngoại Nhà nước Liên Xô E. I. Osadchuk và Thứ trưởng Ngoại thương Việt Nam Hoàng Trọng Đại ký kết biên bản về cung cấp thiết bị trong khuôn khổ thỏa thuận thành lập Xí nghiệp Liên doanh Vietsovpetro, năm 1981 (Tư liệu riêng của E. I. Osadchuk)

Phó chủ tịch Ủy ban Kinh tế đối ngoại Nhà nước Liên Xô E. I. Osadchuk và Thứ trưởng Ngoại thương Việt Nam
Hoàng Trọng Đại ký kết biên bản về cung cấp thiết bị trong khuôn khổ thỏa thuận thành lập Xí nghiệp Liên doanh Vietsovpetro, năm 1981

Đến nay, con đường lịch sử 40 năm đã ghi dấu chân của những người làm dầu khí Vietsovpetro từ những ngày đầu gian khó, những thời điểm thách thức giới hạn của niềm tin, của lập trường, của những định hướng cho tương lai Vietsovpetro đến những niềm vui vỡ òa khi tìm thấy dòng dầu đầu tiên và liên tiếp những triệu tấn dầu được khơi lên từ lòng đất Mẹ.

Con đường lịch sử 40 năm với 240 triệu tấn dầu ấy thấm đẫm biết bao mồ hôi, nước mắt, công sức của những người lao động dầu khí kiên cường. Vượt lên trên tất cả những khó khăn, thách thức đó, tập thể lao động quốc tế Việt Nam – Liên Xô/Liên bang Nga đã khắc ghi tên mình lên trên bản đồ dầu khí Việt Nam, khu vực Đông Nam Á và thế giới.

 

Những căn cứ thực tiễn tiến tới Hiệp định ngày 19/6/1981

So với nhiều ngành khai thác tài nguyên khoáng sản khác, công tác tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí đòi hỏi những khoản đầu tư khổng lô hàng trăm triệu, hàng tỷ đô la Mỹ với độ rủi ro rất cao. Khi phải tiến hành tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí ở ngoài biển khơi, quy mô vốn đầu tư và độ rủi ro càng tăng cao.

Trên thực tế, thực hiện một giếng khoan thăm dò với chiều sâu khoảng 4.000 m, chi phí ước khoảng 10 triệu USD. Để đánh giá và lập sơ đồ công nghệ mỏ dầu, khí, nhiều khi phải khoan hàng chục giếng khoan thăm dò rất tốn kém, trong khi xác suất tìm thấy dầu khí của các giếng khoan thăm dò tại thềm lục địa Việt Nam chỉ đạt khoảng 20-30%.

Sự cố rủi ro trong tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí cao hơn nhiều so với tất cả các lĩnh vực đầu tư sản xuất kinh doanh. Thêm nữa còn phải chịu nhiều rủi ro khác như biến động về chính trị – xã hội, giá cả thế giới, sự biến động bất thường của thời tiết, khí hậu…

Với những nét đặc thù trên, việc thành lập Vietsovpetro còn phải căn cứ vào tất cả các nguồn tài liệu về kết quả khảo sát tìm kiếm, thăm dò từ trước đến nay đã được đánh giá, phân tích một cách có hệ thống, có cơ sở khoa học, có luận cứ vững vàng. Sự phân tích đó không chỉ dựa vào các tài liệu đã khảo sát nghiên cứu trước đây, tài liệu của nước ngoài, mà phải căn cứ cả vào những kết quả nghiên cứu, khảo sát của chính các chuyên gia dầu khí của Việt Nam và Liên Xô để có cơ sở khẳng định một cách xác thực.

Tiềm năng dầu khí

Để xác định tiềm năng dầu khí làm căn cứ cho những quyết định liên quan đến hoạt động dầu khí, từ trước năm 1975, công tác điều tra khảo sát, tìm kiếm, thăm dò đã được xúc tiến ở cả hai miền Bắc, Nam.

Ở miền Bắc, giai đoạn 1955-1975, Chính phủ Liên Xô đã cử các đoàn chuyên gia địa chất sang giúp Việt Nam tiến hành điều tra cơ bản tài nguyên thiên nhiên, đã xác định được những vùng triển vọng dầu khí, trong đó các vùng trũng sông Hồng, vùng trũng An Châu được coi là có triển vọng nhất. Trong thời kỳ này, chúng ta cũng đã tiến hành khoan một số giếng tìm kiếm có chiều sâu trên 1.200 m ở hai vùng trũng này.

Năm 1975, khi Tổng cục Dầu khí Việt Nam được thành lập, công tác tìm kiếm, thăm dò dầu khí bắt đầu đi vào thực hiện một cách có hệ thống.

Với sự giúp đỡ của Liên Xô, năm 1976, mỏ khí đốt Tiền Hải đã được phát hiện và năm 1981 đã được đưa vào khai thác phục vụ cho công nghiệp tỉnh Thái Bình.

Tại thềm lục địa phía Nam, nhiều nhà thầu, nhiều công ty dầu khí nước ngoài đã tiến hành các hoạt động khảo sát, tìm kiếm, thăm dò dầu khí với một khối lượng công việc tương đối lớn. Giai đoạn 1974-1975, các công ty Pecten/Shell, Mobil đã khoan thăm dò và phát hiện dầu ở cấu tạo Dừa và Bạch Hổ.

Sau ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, công tác tìm kiếm, thăm dò dầu khí ngoài biển cũng được đẩy mạnh. Kết quả là Công ty Deminex đã có một phát hiện dầu ở bồn trũng Cửu Long và Công ty Agip đã phát hiện 3 vỉa khí ở bồn trũng Nam Côn Sơn.

Trước khi Vietsovpetro được thành lập, tại thềm lục địa phía Nam đã có hơn 10 nhóm công ty dầu khí thăm dò, đo gần 80.000 km tuyến địa chấn, khoan 18 giếng thăm dò, trong đó 6 giếng đã phát hiện dầu khí.

Giai đoạn 1979-1981, công tác thăm dò bổ sung do Tổng cục Dầu khí biển thuộc Bộ Công nghiệp Khí Liên Xô thực hiện chủ yếu gồm nghiên cứu địa chấn và địa chất công trình. Trên cơ sở kết quả của công tác này, các chuyên gia Liên Xô và Việt Nam đã đưa ra những kết luận có cơ sở khoa học về triển vọng dầu khí ở thềm lục địa phía Nam Việt Nam.

Với những kết quả về điều tra khảo sát, tìm kiếm, thăm dò dầu khí thu thập được từ năm 1960 đến thời điểm những năm 1980 đã cho phép chúng ta phân tích, đánh giá và khẳng định, nước ta rất có triển vọng về dầu khí. Với những căn cứ ban đầu như vậy, để có cơ sở vững chắc cho việc xác định tiềm năng dầu khí ở thềm lục địa Nam Việt Nam, công tác điều tra cơ bản, tìm kiếm, thăm dò được đẩy mạnh hơn nữa.

Vấn đề đặt ra lúc này là phải tiếp tục hợp tác với các công ty dầu khí nước ngoài để khảo sát, tìm kiếm, thăm dò. Nhưng hợp tác với ai, với nước nào? Điều đó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, vào tình hình bối cảnh trong nước và quốc tế.

Bối cảnh trong nước và quốc tế

Trong những năm 80 của thế kỷ XX, đất nước ta đứng trước nhiều khó khăn gay gắt. Khó khăn lớn nhất của nền kinh tế là thiếu lương thực và ngoại tệ. Để duy trì sự phát triển của nền kinh tế, hàng năm nước ta đã phải nhập trên 1 triệu tấn lương thực, gần 10 triệu tấn xăng dầu và nhiều loại nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp trong nước. Do sản xuất không đủ tiêu dùng, thiên tai liên tiếp xảy ra, nên một phần tiêu dùng xã hội phải dựa vào các nguồn vay và viện trợ của nước ngoài. Đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, nền kinh tế lâm vào tình trạng khủng hoảng. Bên cạnh đó, khi chúng ta chưa kịp bước vào khắc phục những hậu quả hết sức nặng nề của chiến tranh lâu dài để lại, chúng ta đã phải tiến hành công cuộc bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía Bắc và Tây Nam…

Với một nền kinh tế có nhiều khó khăn như vậy, chúng ta thiếu vốn, thiếu con người – những kỹ sư chuyên gia giỏi, công nhân bậc cao và thiếu cả kỹ thuật, công nghệ, chỉ có thể hợp tác với bên ngoài để triển khai các hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí.

Thực tế và những kinh nghiệm bước đầu trong giai đoạn 1976-1980, qua hợp tác với một số công ty dầu khí nước ngoài để tiến hành tìm kiếm, thăm dò thềm lục địa phía Nam cho thấy, Việt Nam chưa có Luật Đầu tư nước ngoài, chưa thực hiện đường lối đổi mới, lại bị bao vây cấm vận, nên việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài rất khó khăn, ngay cả trong lĩnh vực dầu khí, một lĩnh vực có sức hấp dẫn đặc biệt đối với các nhà tư bản. Ngay cả các công ty tư bản trước đây đã từng hợp tác với Việt Nam trong việc tìm kiếm, thăm dò dầu khí như Bow Valley, Agip, Deminex cũng không vượt qua nổi hàng rào cấm vận, phải chấm dứt hoạt động thăm dò tại các lô đã ký hợp đồng trước đó tại thềm lục địa phía Nam, trả lại diện tích cho Tổng cục Dầu khí Việt Nam vào năm 1980. Tình thế đặt ra cho Việt Nam lúc này rất bức bách, song cũng có những thuận lợi rất cơ bản. Đó là miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước hòa bình thống nhất, chính trị ổn định, uy tín của Việt Nam đối với các nước trong khu vực và trên thế giới ngày càng được nâng cao, sự giúp đỡ to lớn và có hiệu quả của Liên Xô.

Tiến tới hợp tác với Liên Xô để phát triển dầu khí

Việt Nam và Liên Xô đã có quan hệ hợp tác hữu nghị truyền thống từ lâu trên rất nhiều lĩnh vực. Liên Xô cũng đã từng giúp đỡ, viện trợ và cử nhiều chuyên gia sang Việt Nam làm việc trong tìm kiếm, thăm dò dầu khí, mà khu vực trung tâm là châu thổ sông Hồng. Quan hệ hợp tác và hữu nghị giữa Chính phủ và nhân dân hai nước Việt Nam và Liên Xô đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam thể hiện đầy tình nghĩa anh em, vô tư, trong sáng, đang phát triển đến đỉnh cao rực rỡ. Trong giai đoạn này, sự hợp tác toàn diện giữa nước ta với Liên Xô là một nhân tố cực kỳ quan trọng, giúp chúng ta khắc phục khó khăn và tiếp tục xây dựng đất nước. Liên Xô tập trung giúp Việt Nam xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng, các trung tâm năng lượng, trong đó có dầu khí. Hợp tác với Liên Xô trong lĩnh vực dầu khí lúc này là rất thuận lợi.

Tình hình dầu khí thế giới khi đó cũng có nhiều biến động. Trong những năm 1970, nhiều nước trên thế giới bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng năng lượng, nhiều công ty hàng đầu thế giới đã hướng hoạt động đầu tư ra các khu vực mới. Thềm lục địa phía Nam Việt Nam với những kết quả thăm dò dầu khí do các công ty dầu khí quốc tế tiến hành trước và sau năm 1975 đã trở thành điểm hẹn mới của tình hữu nghị Việt – Xô.

Ngày 3/7/1980, Hiệp định giữa Chính phủ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô viết về việc hợp tác tiến hành thăm dò địa chất và khai thác dầu khí ở thềm lục địa phía Nam Việt Nam đã được ký kết. Trên cơ sở Hiệp định này, những công việc chuẩn bị cho việc ký kết một hiệp định tiếp theo (Hiệp định ngày 19/6/1981) đã được hai Phía Việt Nam và Liên Xô xúc tiến, đẩy mạnh.

Nhu cầu tiếp tục xây dựng Chủ nghĩa Xã hội sau chiến tranh, trong điều kiện tình hình trong nước và quốc tế như trên, đã thúc đẩy chúng ta liên kết, hợp tác một cách tự nhiên với Liên Xô trong lĩnh vực thăm dò và khai thác dầu khí và tiến tới thành lập Xí nghiệp Liên doanh Vietsovpetro vào năm 1981. Vietsovpetro được thành lập trong bối cảnh đó là một đòi hỏi khách quan, hoàn toàn phù hợp với bước phát triển của tình hữu nghị Việt – Xô.

Nền tảng pháp lý vững chắc cho sự thành lập và hoạt động có hiệu quả của Vietsovpetro

1. Sau giải phóng miền Nam, chúng ta đã đặt vấn đề với Liên Xô hợp tác thăm dò và khai thác dầu khí ở thềm lục địa phía Nam. Vào thời kỳ đó, Liên Xô cũng gặp những hạn chế về tài chính, công nghệ và kinh nghiệm khai thác ở vùng biển mở (trừ Azerbaijan được khai thác bằng các đảo nổi). Tuy nhiên, vào những năm cuối thập niên 1970, Liên Xô đã có những bước tiến trong công cuộc chinh phục biển khơi.

Thời gian này, Liên Xô tiến hành thăm dò dầu khí ở độ sâu nước biển trên 100m ngoài biển Baltic và vùng biển Sakhalin. Trước những khó khăn mà Việt Nam phải đương đầu, một lần nữa tình đoàn kết quốc tế vô sản Việt Nam – Liên Xô lại ngời sáng hơn bao giờ hết. Sẵn sàng giúp đỡ Việt Nam, chia sẻ khó khăn thách thức với Việt Nam, các chuyên gia Liên Xô lại ngày đêm sát cánh cùng các đồng nghiệp Việt Nam trong công cuộc tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí thềm lục địa Việt Nam.

Trong việc thành lập Vietsovpetro, Bộ Công nghiệp Khí Liên Xô và Ủy ban Kế hoạch Nhà nước Liên Xô là hai cơ quan đã có những ủng hộ rất tích cực, như đề nghị Chính phủ Liên Xô hợp tác với Việt Nam khảo sát thăm dò dầu khí. Các đồng chí Iu. V. Zaixev, G. P. Ovanhetxov, S. A. Obrusev, O. O. Seremeta, G. N. Belianhin là những người rất nhiệt tình trong việc xây dựng luận chứng kinh tế kỹ thuật về triển vọng dầu khí ở Việt Nam và tích cực ủng hộ việc thành lập Vietsovpetro.

Trong những năm 1979-1981, Tổng cục Dầu khí biển thuộc Bộ Công nghiệp Khí Liên Xô đã thực hiện một khối lượng lớn công tác nghiên cứu địa chấn và khảo sát địa chất công trình tại thềm lục địa Nam Việt Nam. Trên cơ sở kết quả của các công tác đó, các chuyên gia Liên Xô – Việt Nam đã đưa ra những kết luận có căn cứ khoa học về triển vọng dầu khí cao ở thềm lục địa Việt Nam.

Đoàn chuyên gia dầu khí cao cấp đầu tiên của Liên Xô do đồng chí Iu. V. Zaixev, Thứ trưởng thứ nhất Bộ Công nghiệp Khí Liên Xô dẫn đầu cùng nhiều chuyên gia chuyên ngành dầu khí đã đến Việt Nam, phối hợp cùng cán bộ khoa học kỹ thuật dầu khí Việt Nam tổng hợp phân tích những nguồn tài liệu đã có từ trước để lập báo cáo tổng thể về thực trạng vấn đề dầu khí ở thềm lục địa do chính các chuyên gia Việt Nam – Liên Xô trực tiếp thực hiện.

Sau hơn 3 tháng, bản báo cáo đã hoàn thành với một nhận định hết sức khả quan về trữ lượng dầu khí ở Việt Nam. Báo cáo được gửi lên Chính phủ hai nước Việt Nam và Liên Xô. Đây là một trong những căn cứ thực tiễn quan trọng nhất, là yếu tố bảo đảm chắc chắn cho việc ký kết hiệp định chính thức thành lập Vietsovpetro.

 

Thực hiện hình thức hợp tác phân chia sản phẩm, nhà thầu tự đầu tư, hoàn toàn chịu mọi rủi ro như đã áp dụng đối với các nhà thầu tư bản trước đây, đối với cả hai phía đều có nhiều khó khăn, bất lợi. Phía Liên Xô, do những khó khăn lúc bấy giờ về tài chính và kỹ thuật, sẽ khó đủ sức đầu tư và gánh chịu mọi rủi ro. Phía Việt Nam thực hiện hình thức này tuy “chắc chắn” nhưng lại không thể chủ động tham gia vào quá trình tìm kiếm, thăm dò, khai thác của đối tác đầu tư.

Và điều quan trọng là, dựa vào hình thức này ta không bao giờ tự xây dựng được cơ sở vật chất kỹ thuật cho ngành Dầu khí của Việt Nam và không thể nhanh chóng đào tạo được đội ngũ cán bộ, công nhân dầu khí có trình độ, chuyên môn cao.

Như vậy, hình thức xí nghiệp liên doanh được quyết định như một sự lựa chọn tất yếu. Trên cơ sở nguyên tắc pháp lý “ngang nhau”, cả hai bên đã vượt qua được những khó khăn, đáp ứng được những yêu cầu trước mắt và lâu dài của mình.

Thực tiễn xây dựng và phát triển của Vietsovpetro đã khẳng định tính đúng đắn và hiệu quả cao của hình thức xí nghiệp liên doanh, khẳng định quyết tâm và chủ trương của hai Đảng, hai Nhà nước trong lĩnh vực hợp tác tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí là sáng suốt và đúng đắn.

 

2. Hiệp định Việt – Xô về hợp tác tiến hành thăm dò địa chất và khai thác dầu khí ở thềm lục địa phía nam Việt Nam ký ngày 3/7/1980 (gọi tắt là Hiệp định ngày 3/7/1980) là 1 hiệp định khung, thỏa thuận về nguyên tắc những cam kết giữa hai Chính phủ Việt Nam và Liên Xô sẽ thành lập một xí nghiệp liên doanh dầu khí trên cơ sở “ngang nhau”.

Trong đó, nội dung Điều 1 chính là tiền đề có tính nguyên tắc cho Hiệp định ngày 19/6/1981 với việc thành lập Vietsovpetro trên tinh thần hữu nghị và hoàn toàn bình đẳng về trách nhiệm, nghĩa vụ đóng góp và quyền lợi kinh tế: “Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Liên bang Xô viết sẽ thành lập trên cơ sở ngang nhau 1 Xí nghiệp Liên doanh Việt – Xô về thăm dò địa chất và khai thác dầu khí ở thềm lục địa phía nam Việt Nam, tại những vùng do Bên Việt Nam xác định với sự tham gia của các tổ chức Liên Xô”.

Hiệp định cũng xác định cụ thể trách nhiệm và những phần việc mà hai Phía phải thực hiện để xây dựng căn cứ thực tiễn và cơ sở vật chất – kỹ thuật cần thiết ban đầu cho sự ra đời của Vietsovpetro (Điều 2 và Điều 3); đặt cơ sở pháp lý cho việc ký kết một hiệp định tiếp theo để cụ thể hóa các vấn đề về pháp lý – tài chính, thương mại và các vấn đề khác có liên quan đến việc thành lập và hoạt động của Vietsovpetro (Điều 5).

Trên cơ sở pháp lý chung là Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Việt Nam và Liên bang Xô viết ký ngày 3/11/1978 và Hiệp định ngày 3/7/1980, Hiệp định Liên Chính phủ giữa Việt Nam và Liên bang Xô viết về việc thành lập Vietsovpetro tiến hành thăm dò địa chất và khai thác dầu khí ở thềm lục địa phía nam Việt Nam (gọi tắt là Hiệp định ngày 19/6/1981) chính thức được ký kết.

Những căn cứ pháp lý này bảo đảm cho Vietsovpetro có tư cách pháp nhân, hoạt động theo những quy định phù hợp với công ước quốc tế và pháp luật của mỗi nước, theo những thỏa thuận giữa hai Chính phủ nhằm giúp đỡ lẫn nhau và đạt được mục tiêu chung mà liên doanh đề ra. Sự tồn tại và phát triển của Vietsovpetro cũng được pháp luật và công ước quốc tế thừa nhận và bảo vệ.

 

Đặt bút ký văn kiện này là Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô, Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, Chủ tịch Phân ban Liên Xô trong Ủy ban Liên chính phủ Liên Xô – Việt Nam về Hợp tác kinh tế, khoa học và kỹ thuật K. F. Katushev và Phó Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, Chủ tịch Phân ban Việt Nam trong Ủy ban Liên chính phủ Trần Quỳnh.

Hiệp định ngày 19/6/1981 có 27 điều, trong đó các nội dung cơ bản xác định:

  • Đối tượng hoạt động của Vietsovpetro là tiến hành thăm dò địa chất và khai thác dầu, khí ở thềm lục địa phía nam Việt Nam cũng như nghiên cứu tổng hợp địa vật lý trong phạm vi toàn bộ thềm lục địa Việt Nam.
  • Các Phía tham gia Vietsovpetro gồm Bên Việt Nam là Tổng сụс Dầu khí Việt Nam, Bên Liên Xô là Bộ Công nghiệp Khí Liên Xô.
  • Vốn pháp định của Vietsovpetro do các Bên đóng góp ngang nhau.
  • Lợi nhuận của Vietsovpetro được chia đều cho mỗi Phía sau khi trừ phần để lại tiếp tục phát triển Xí nghiệp và lập các quỹ dự trữ, quỹ đặc biệt.
  • Cơ quan lãnh đạo của Vietsovpetro là Hội đồng Xí nghiệp Liên doanh.
  • Ban Thanh tra Vietsovpetro do Hội đồng bổ nhiệm để kiểm tra hoạt động tài chính và kinh doanh của Vietsovpetro.

Hiệp định ngày 19/6/1981 quy định cụ thể những nguyên tắc cho sự thành lập, cũng như hoạt động của Vietsovpetro; trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của Vietsovpetro và hai Phía tham gia liên doanh; những ưu đãi đặc biệt mà Việt Nam và Liên Xô dành cho nhau trên tinh thần đoàn kết, hợp tác quốc tế vô sản. Hình thức tổ chức của Vietsovpetro như một liên hiệp sản xuất – khoa học quốc doanh.

Một vấn đề hết sức quan trọng đã được Hiệp định ngày 19/6/1981 khẳng định là tư cách pháp nhân của Vietsovpetro. Vietsovpetro là pháp nhân của Việt Nam và hoạt động trên cơ sở Điều lệ của Vietsovpetro. Trong quá trình hoạt động của mình, Vietsovpetro phải tuân thủ pháp luật của Việt Nam và được quyền bình đẳng như mọi doanh nghiệp là pháp nhân của Việt Nam.

Tuy nhiên, để thực hiện những cam kết về trách nhiệm nghĩa vụ và quyền lợi theo nguyên tắc “ngang nhau”, cả hai Phía Việt Nam và Liên Xô đều gặp những khó khăn, thách thức rất khó vượt qua. Bởi vậy cả hai Bên đều rất tôn trọng nguyên tắc thỏa thuận, dành cho nhau những ưu đãi đặc biệt một cách vô tư, không tính toán thiệt hơn. Những thỏa thuận ưu đãi đặc biệt được ghi trong Hiệp định hoàn toàn phù hợp với “Nguyên tắc đối xử ưu đãi” của luật kinh tế quốc tế, và là sự phát huy những giá trị truyền thống cao đẹp trong quan hệ hợp tác hữu nghị vốn có giữa Đảng, Chính phủ và nhân dân hai nước. Liên Xô dành cho Việt Nam những ưu đãi đặc biệt phù hợp với khả năng đóng góp để vượt qua những khó khăn về tài chính của một nước nghèo, vừa ra khỏi chiến tranh, đang trong thời kỳ khủng hoảng.

Phần vốn góp của Việt Nam vào Vietsovpetro được thực hiện bằng công tác khảo sát thiết kế, xây lắp, vận hành, cung cấp thiết bị vật tư, nhà làm việc, nhà ở và nhà xưởng sản xuất, cung cấp điện nước,… Phần vốn góp của Liên Xô vào Vietsovpetro là những công việc do Liên Xô thực hiện như nghiên cứu địa chất, khảo sát, thăm dò, thiết kế, cung cấp thiết bị vật tư dầu khí mà Việt Nam không cung cấp được, chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm kỹ thuật và kiến thức về dầu khí, cử chuyên gia đến làm việc tại Vietsovpetro cũng như đào tạo cán bộ, công nhân kỹ thuật cho Việt Nam.

Để tạo điều kiện cho Bên Việt Nam góp vốn bình đẳng vào Vietsovpetro, trong giai đoạn 1981-1985, Bên Liên Xô còn dành cho Bên Việt Nam các khoản vay với lãi suất 4%/năm và trả nợ trong vòng 10 năm, kể từ năm 1986. Hiệp định cũng tỏ rõ sự ưu ái của Nhà nước Việt Nam thông qua việc miễn thuế trực thu và lệ phí quốc gia cũng như địa phương tại Việt Nam đối với các công trình nằm trong thành phần của Vietsovpetro sau khi xây dựng xong.

Cùng với nhiều văn kiện khác, Hiệp định ngày 19/6/1981 được Chính phủ hai nước Việt Nam và Liên Xô ký kết, đã tạo dựng nền tảng pháp lý vững chắc cho sự thành lập và hoạt động có hiệu quả xuyên suốt 40 năm phát triển sau này của Liên doanh Việt – Nga Vietsovpetro.

Theo Tạp chí điện tử Petrotimes

Có thể bạn quan tâm

Bài viết liên quan